Tạo động lực phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa (Kỳ 1)

Lượt xem: 67 | Gửi lúc: 01:30' 09/10/2016

Doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) không chỉ góp phần quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, mà còn đóng vai trò quan trọng trong các phong trào khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo. Tuy nhiên, trong bối cảnh hội nhập sâu rộng, vấn đề cạnh tranh trở nên gay gắt, nếu không có những giải pháp căn cơ nhằm tháo gỡ khó khăn, kích cầu và hỗ trợ DNNVV tạo bứt phá, thì nguy cơ khối này từ động lực lại biến thành đình trệ.

Sản xuất ống đồng tại Công ty cổ phần ống đồng Toàn Phát (Khu công nghiệp Phố Nối A, Hưng Yên).

Bài 1: Tháo gỡ rào cản

Nếu so với doanh nghiệp (DN) lớn, DNNVV đang gặp phải rất nhiều hạn chế trong tiếp cận các thị trường đầu ra cũng như đầu vào, tín dụng, đất đai, nguồn lực hay cơ hội tiêu thụ sản phẩm… Tháo gỡ được các khó khăn này sẽ giúp DNNVV có được môi trường hoạt động thông thoáng, bình đẳng hơn, đồng thời tích lũy đủ sức mạnh để kích cầu phát triển, thật sự trở thành nguồn động lực tăng trưởng quan trọng của cả nền kinh tế.

Nỗi lo về vốn

Hoạt động hơn bốn năm trong lĩnh vực công nghiệp phụ trợ, Công ty TNHH cơ khí Trang Minh (quận Kiến An, TP Hải Phòng) là DN chuyên gia công, sản xuất các linh kiện ngành cơ khí, phục vụ các DN lớn. Đứng trước đòi hỏi ngày càng cao của thị trường về chất lượng sản phẩm, Giám đốc Công ty Bùi Xuân Bình lên kế hoạch đầu tư một dàn máy mới cho nhà xưởng. Tuy nhiên, khó khăn trong tiếp cận nguồn vốn vay khiến việc đổi mới công nghệ của anh Bình ấp ủ hơn một năm nay, đến giờ chưa thể thực hiện. Vị Giám đốc này chia sẻ: Đi vay vốn, ngân hàng nào cũng yêu cầu có tài sản thế chấp. Theo quy định, nhà xưởng thì không thế chấp được nhưng đến dàn máy cũ, mua hơn 400 triệu đồng, giờ nếu bán sắt vụn cũng được cả trăm triệu đồng, mà khi đem ra thế chấp cũng chỉ được vay vài chục triệu đồng. Chủ tịch Hiệp hội DNNVV tỉnh Bắc Ninh Nguyễn Nhân Phương cho biết: Các ngân hàng thường thích các khoản vay lớn, ít mặn mà với các khoản vay nhỏ, lẻ. Trong khi đó, rất ít DNNVV có được tài sản bảo đảm cho khoản vốn cần vay. Việc quy định cơ sở hạ tầng hay nhà xưởng xây dựng trên đất thuê, dù đã được DN mua lại của người làm mặt bằng hoặc tự đền bù cho người dân rồi san lấp, xây dựng,… tuy có giá trị thực tế trên thị trường, nhưng lại không được sử dụng làm tài sản thế chấp. Vì thế, không ít DN phải “cắn răng” đi vay vốn “chợ đen”, lãi suất cao để duy trì sản xuất. Theo nghiên cứu của Hiệp hội DNNVV Việt Nam, chỉ có 30% số DNNVV tiếp cận được vốn từ ngân hàng, 70% số DN còn lại phải sử dụng vốn tự có hoặc vay từ nguồn khác, có nhiều DN phải vay với lãi suất cao 15 - 18%. Điều kiện vay vốn hiện nay chưa phù hợp DNNVV, rất ít DN đáp ứng được điều kiện không nợ thuế và lãi suất quá hạn… Bên cạnh đó, các ngân hàng “vin” vào cớ DNNVV phần lớn có đánh giá tín nhiệm thấp, nên không thể mạo hiểm giải ngân, tránh phát sinh nợ xấu. Tuy nhiên, nhiều chuyên gia nhận định, việc cho DNNVV vay vốn an toàn hơn nhiều so với cho vay các dự án lớn, vì phân bổ được rủi ro. Nguyên nhân khiến DNNVV chưa “hợp gu” của ngân hàng nằm ở chi phí giao dịch. Thí dụ, mười khoản vay một tỷ đồng sẽ có chi phí giao dịch gấp mười lần của một khoản vay 10 tỷ đồng, vì vậy, các ngân hàng chỉ thích các giao dịch lớn. Để giải quyết bài toán này, Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) Vũ Tiến Lộc đề xuất, các ngân hàng cần đẩy mạnh cho vay tín chấp để giúp DN phát triển sản xuất, kinh doanh. Để làm được điều này, các ngân hàng cần nhìn thấu đáo, đánh giá đúng độ tin cậy, tín nhiệm của các DN và các dự án, bảo đảm lợi ích cho DN cũng như chính mình; đồng thời, cải tiến, chuyên biệt hóa hệ thống chăm sóc, thẩm định khách hàng là DNNVV để tiết giảm chi phí giao dịch. Đồng thời, Nhà nước cũng nên có chính sách khuyến khích hoặc bắt buộc các ngân hàng tăng dư nợ cho vay DNNVV. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, nhiều nước đã áp dụng quy định bắt buộc như Ấn Độ dành tối thiểu 7% tổng dư nợ tín dụng cho DNNVV, Phi-li-pin dành 10% hay In-đô-nê-xi-a dành tối thiểu 20%… TS Phạm Thị Thu Hằng, Tổng Thư ký VCCI kiến nghị: Rất nhiều DNNVV khó có được kế hoạch kinh doanh bài bản để được ngân hàng chấp nhận cho vay tín chấp, trong khi ngân hàng không có đủ năng lực và điều kiện để tìm hiểu thị trường cũng như đánh giá tính khả thi của dự án đầu tư. Vì vậy, Nhà nước cần tập trung phát triển hệ thống đánh giá tín nhiệm DN, hệ thống quỹ bảo lãnh tín dụng để hỗ trợ DN hiệu quả hơn.

Còn nhiều bất cập

Theo kết quả của nhiều cuộc nghiên cứu, quy mô trung bình của DN Việt Nam đang liên tục giảm thấp. Nếu năm 2007, số lao động trung bình trong một DN là 49 lao động, thì hiện nay, con số này chỉ còn là 29, cho thấy rõ xu hướng DN vừa đang dần bị "co" lại thành DN nhỏ, còn DN nhỏ lại “teo tóp” thành siêu nhỏ. Hiện nay, số DN vừa chỉ còn chiếm khoảng 2%. Rõ ràng, DNNVV đã gặp quá nhiều sức ép khi phải cạnh tranh trong các thị trường đầu ra và đầu vào. Thực tế, bên cạnh khó khăn trong thị trường tài chính, DNNVV cũng bị hạn chế rất nhiều khi tiếp xúc các thị trường còn lại, như bất động sản, công nghệ hay tiêu dùng,…Giám đốc Công ty TNHH thương mại thời trang Nam Hưng (huyện Gia Lâm, Hà Nội) Vũ Việt Hưng cho biết: Để xin cấp đất mở xưởng may, DN phải mất thời gian nhiều tháng, với hàng loạt thủ tục, cộng thêm vô vàn chi phí phát sinh. Việc này làm tăng chi phí của DN ngay từ ban đầu, làm giảm sức cạnh tranh của DN. Thực tế hiện nay, nếu tỉnh nào có vài khu công nghiệp, khu kinh tế khang trang, to đẹp, thì dù đang bị bỏ hoang cũng không có chỗ cho DNNVV. Nguyên nhân do chi phí xây dựng và quản lý, không chủ đầu tư khu công nghiệp nào lại chấp nhận chia lô vài trăm mét vuông mà hầu hết phải từ vài héc-ta trở lên, ngoài tầm với của đại đa số các DNNVV. TS Phạm Thị Thu Hằng kiến nghị: Ngoài việc đưa ra những chính sách mang tính khuyến khích các DN, tổ chức, cá nhân đầu tư kinh doanh phát triển hạ tầng khu công nghiệp, khu công nghệ cao,… để dành diện tích đất nhất định cho DNNVV thuê, Nhà nước có thể đầu tư xây dựng các khu công nghiệp “mỳ ăn liền”, nơi có sẵn nhà xưởng và thậm chí là cả các máy móc cần thiết nhất, để khi DN cần hoặc có đơn hàng chỉ việc chạy đến thuê và tiến hành ngay hoạt động sản xuất. Mô hình này đã được áp dụng rất thành công ở nhiều nước, nhất là tại Trung Quốc. Ông Nguyễn Nhân Phương cũng cho rằng: DNNVV chủ yếu sống bằng các cơ hội của thị trường, khi cơ hội đến mà thủ tục thuê đất hàng năm trời chưa xong, thì hoàn toàn vuột mất. Vì vậy, các địa phương có thể hỗ trợ bằng cách quy hoạch các khu dành riêng cho DNNVV, ứng trước luôn tiền đền bù, nhưng vẫn để người dân cày cấy nếu là đất nông nghiệp. Đến khi DN có nhu cầu sẽ thuê lại mới bắt đầu san lấp mặt bằng, vừa không lãng phí đất, lại đơn giản và thuận tiện hơn cho các DN. Ngoài ra, trong bối cảnh hội nhập hiện nay, nếu DN trong nước không có công nghệ, máy móc, kỹ thuật hiện đại, sẽ không có được sản phẩm đủ sức cạnh tranh với hàng ngoại nhập. Tuy nhiên, chưa tính đến các DN nước ngoài, chỉ cần so với các DN lớn trong nước, DNNVV đã lép vế hơn nhiều về khả năng nghiên cứu, đầu tư hay tiếp thu công nghệ. Theo nghiên cứu, thời gian gần đây đã có sự dịch chuyển rất lớn từ các DN sản xuất sang DN cung ứng dịch vụ. Nguyên nhân do sự bế tắc về công nghệ khiến sản phẩm của các DN này thiếu sức cạnh tranh, kinh doanh không hiệu quả và bắt buộc phải chuyển đổi hoặc ngừng hoạt động. Trước thực tế này, Nhà nước cần hỗ trợ DNNVV đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm. Thí dụ, Nhà nước có thể hỗ trợ doanh nghiệp một phần lãi suất nguồn vốn vay đổi mới công nghệ. Khi đó, gánh nặng được sẻ chia, DNNVV sẽ có cơ hội phát triển tốt hơn, nhanh hơn và đóng góp lại nguồn thuế còn lớn hơn sự ưu đãi trước đó Nhà nước đã dành cho. Điều quan trọng nhất, hỗ trợ DNNVV đổi mới công nghệ, nâng cao sức cạnh tranh chắc chắn sẽ tạo ra cuộc cách mạng đổi mới, sáng tạo trong toàn xã hội./.

Theo kinh nghiệm quốc tế, Hoa Kỳ quy định 23% số hợp đồng liên bang dành riêng cho DNNVV; Trung Quốc quy định các cơ quan chính phủ dành ít nhất 30% ngân sách mua sắm công hằng năm cho khối DN này; Ấn Độ quy định mua sắm ít nhất 20% hàng hóa, dịch vụ từ các DNNVV, tại châu Âu, DNNVV giành được 44 - 84% số hợp đồng mua sắm tại các quốc gia thành viên. Còn theo dự thảo Đề án Luật Hỗ trợ DNNVV được Bộ Kế hoạch và Đầu tư biên soạn, Việt Nam sẽ dành tỷ lệ 20% ngân sách hoặc 20% số hợp đồng mua sắm công dành riêng cho DNNVV.

Theo kinh nghiệm quốc tế, Hoa Kỳ quy định 23% số hợp đồng liên bang dành riêng cho DNNVV; Trung Quốc quy định các cơ quan chính phủ dành ít nhất 30% ngân sách mua sắm công hằng năm cho khối DN này; Ấn Độ quy định mua sắm ít nhất 20% hàng hóa, dịch vụ từ các DNNVV, tại châu Âu, DNNVV giành được 44 - 84% số hợp đồng mua sắm tại các quốc gia thành viên. Còn theo dự thảo Đề án Luật Hỗ trợ DNNVV được Bộ Kế hoạch và Đầu tư biên soạn, Việt Nam sẽ dành tỷ lệ 20% ngân sách hoặc 20% số hợp đồng mua sắm công dành riêng cho DNNVV.

(Bộ Kế hoạch và Đầu tư)

Nguồn: www.nhandan.com.vn